"Nhìn lại chặng đường 25 năm, Long Phú Tourist không chỉ tự hào về những con số tăng trưởng, mà còn là tình thân của những thế hệ con người đã gắn bó dưới mái nhà chung."
Câu chuyện bắt đầu vào một mốc sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, ngày 18 tháng 4 năm 1983. Khi đó, đã diễn ra một hiệp định lịch sử, phía đối tác quyết định ký một hiệp định hợp tác nuôi khỉ giữa 2 nhà nước Việt Nam và Liên xô (cũ) ký ngày 18/4/1983 đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh Phú Khánh. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu là nuôi Khỉ tại 05 đảo: Đảo Hòn Thị, Hòn Lao, Hòn Sầm, Hòn Lăng, Hòn Rớ thuộc vùng Đầm Nha Phu. Toàn bộ sản phẩm xuất khẩu được bên đối tác Liên Xô bao tiêu để phục vụ y khoa. Tuy nhiên, mấu chốt của thỏa thuận này đi kèm với một điều kiện bắt buộc là chính phủ Việt Nam phải thành lập một công ty đặc biệt được nhắc đến là "Công ty Khỉ" ngay trong cùng ngày ký kết hiệp định.
Trong giai đoạn chiến tranh lạnh giữa Khối xã hội chủ nghĩa và Khối tư bản lúc bất giờ đang chay đua trong việc phát triển vũ khí hóa học, sinh học trong đó có y khoa. Vì tính chất nhạy cảm của dự án là xuất khẩu khỉ ra nước ngoài và đặc biệt càng không thể lấy tên là Công ty khỉ để giao dịch như vậy sẽ không đúng với tiêu chuẩn CITES quốc tế, đoàn làm việc bị rơi một tình huống khá lúng túng trong giai đoạn đầu thành lập, khi những người làm công tác tổ chức thuộc nhóm nghiên cứu thuộc sở y tế tỉnh Phú Khánh bấy giờ băn khoăn không biết phải "đặt tên công ty là cái gì bây giờ.
Về mặt hoạt động, nhiệm vụ của công ty là tiến hành chăn nuôi Khỉ nhằm mục đích xuất khẩu để phục vụ y khoa, tuân thủ theo đúng các yêu cầu kỹ thuật khắt khe do chính phía đối tác hướng dẫn và đào tạo. Sau một thời gian hoạt động, để quá trình xuất khẩu diễn ra suôn sẻ, đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định của quốc tế trong quá trình vận chuyển, công ty đã buộc phải "đổi tên cho nó đúng" với chức năng chính thức. Vì thế mới thống nhất lấy tên theo ngày ký hiệp định, thế là 23/01/1984 cái tên Công ty 18 tháng 4 tỉnh Phú Khánh (gọi tắt Công ty 18 tháng tư) ra đời từ đó, tiền thân của Công ty CP Du lịch Long Phú hiện nay.
Đan xen với bối cảnh của một hiệp định chính trị lớn lao ấy là một góc nhìn về cuộc sống dân cư tại địa phương lân cận tại khu vực CÙ SƠN (hay được người dân địa phương nhắc đến là "Hòn Lao" nay thuộc xã Vĩnh Lương nay là phường Bắc Nha Trang, thực chất không hề hoang vắng như nhiều người lầm tưởng. Nơi đây từng có 18 hộ dân chuyển lên định cư và sinh sống. Dấu tích sinh hoạt của những hộ dân bản địa này cư dân sinh sống nơi đây hiện vẫn còn lưu lại qua hình ảnh một cái giếng nước được khắc chữ “CÙ SƠN 7/7/1983” cũ vẫn còn tồn tại ở đó.
Câu chuyện về sự hình thành ngành du lịch đảo không chỉ là những dòng ghi chép lịch sử khô khan, mà là một khúc tráng ca đầy mồ hôi, nước mắt và khát vọng sinh tồn mãnh liệt của những con người bị dồn vào bước đường cùng. Hãy cùng nhìn lại chặng đường đầy thăng trầm ấy qua từng cột mốc lịch sử:
1. Giai đoạn từ 1985 – cuối năm 1995:
* Giai đoạn 1985 – 1988: Những khát vọng đi trước thời đại và chặng đường gian nan ươm mầm
Ngay từ những năm 1986, 1987, 1988, ông Nguyễn Xuân Hoàng Tổng giám đốc Công ty chuyên doanh Thuốc lá Phú Khánh liên hiệp thuốc lá (Khatoco) và ông Lương Phan Hồ Giám đốc Công ty 18/4 đã ấp ủ một giấc mơ vĩ đại mang tầm nhìn chiến lược, ý định xin một hòn đảo để đưa khỉ ra nuôi và làm du lịch, thậm chí họ đã táo bạo nghĩ đến việc giăng cáp treo nối từ bờ qua biển và kinh doanh cả du thuyền. Thế nhưng, khát vọng nhãn quan đi trước thời đại ấy đành ngậm ngùi gác lại trong sự tiếc nuối bởi cơ chế của tỉnh nhà lúc bấy giờ còn quá nhiều rào cản.
Thay vì làm du lịch, Công ty 18 tháng 4 dồn sức cho hiệp định hợp tác nuôi khỉ xuất khẩu. Bắt đầu từ năm 1985, công ty chắt chiu cử những lứa cán bộ đầu tiên đi đào tạo. Đến năm 1987 - 1988, song song với việc học hỏi, họ Công ty bắt đầu tỏa đi tổ chức đi cử người đi thu mua các giống khỉ hoang dã từ các nơi khác mang về như: Quảng Bình, Hải Phòng và các vùng lân cận trong tỉnh Khánh Hòa để thả nuôi tự nhiên tại các hòn đả, mỗi đảo mỗi loại khác nhau. Song song nuôi khỉ trên đảo, Công ty xây dựng trại Đường Đệ để nuôi khỉ thế hệ thứ 2 trên một khu đất rộng mênh mông hàng chục hecta, nhưng lúc đó mới chỉ đang lác đác xây dựng, đó là những tháng ngày miệt mài đổ mồ hôi tại trại Đường Đệ. Các con khỉ thuộc thế hệ thứ 2 được bắt từ các đảo về đưa vào nuôi chuồng để thuần hóa, tiêm vắc xin và theo dõi từng nhịp sinh sản. Quy trình khắt khe đến mức vắt kiệt sự kiên nhẫn: chỉ những con khỉ thế hệ thứ hai (có hồ sơ xác định rõ ràng bố mẹ) mới được phép xuất cách ly để bán.
* Giai đoạn 1989 – 1990: Bóng đen bao phủ những nỗ lực vô vọng.
Suốt ba năm ròng rã (1988, 1989, 1990), 82 con người của công ty đã dồn hết tâm huyết để nuôi dưỡng, thuần hóa đàn khỉ với biết bao kỳ vọng. Thế nhưng, thành quả chưa kịp gặt hái thì biến động địa chính trị nửa vòng trái đất, khối Đông Âu bắt đầu rạn nứt. Bất chấp mọi nỗ lực và mồ hôi đã đổ xuống, những lứa khỉ vẫn cần thời gian để lớn lên và sinh sản, dẫn đến một sự thật xót xa: lúc bấy giờ công ty chưa thể xuất bán được dù chỉ là một con khỉ.
Năm 1991: Vỡ mộng, trắng tay và sự dồn ép đến cùng cực, khi Liên Xô chính thức sụp đổ, hiệp định hợp tác đứt gãy hoàn toàn. Nguồn viện trợ bị cắt đứt phũ phàng, phía Trung ương không thể hỗ trợ vốn cho một hiệp định đã không còn tồn tại, đẩy dự án vào bóng tối của sự bế tắc. Trong nỗ lực cứu vãn đầy tuyệt vọng, lúc đó Giám đốc là Ông Trương Văn Hùng đã cắn răng đem bán sạch toàn bộ vật tư chiến lược của dự án (máy móc, xi măng, nhựa đường, lưới B40). Đáng lẽ số tiền đó có thể giữ lại để tìm hướng đi mới, nhưng ông lại quyết định nộp hết vào ngân sách nhà nước với tia hy vọng sẽ được tỉnh quy hoạch rót vốn lại. Nhưng cay đắng thay, tỉnh không rót lại cho công ty một đồng nào. Công ty rơi vào tình cảnh "chới với", chút tiền còm cõi đi xin lại chỉ đủ để duy trì hơi thở thoi thóp cho khoảng chục con người ở bộ máy hành chính. Khoảng 20 con người lao động trực tiếp ngoài trại nuôi Đường Đệ và bộ phận kỹ thuật bỗng chốc bị bỏ rơi, đối mặt với cái đói vì hoàn toàn không có lương.
Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã nhiều lần đề nghị Trung ương giải quyết. Sau Hội nghị đàm phán tháng 01 năm1991 tại Hà Nội, Nhà nước đã chính thức thông báo dự án nuôi khỉ giao về cho Tỉnh quản lý và tự tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc có hướng sử dụng phù hợp với tình hình thực tế của Tỉnh. Vì vậy, từ năm 1991, Trung ương ngừng cấp kinh phí hoàn chỉnh công trình và Tỉnh cũng ngừng cấp kinh phí nuôi dưỡng, chăm sóc đàn khỉ.
* Giai đoạn 1991 – 1995: Ánh sáng le lói từ bản năng sinh tồn.
Bị dồn vào chân tường, đói khổ và tuyệt vọng, những người lao động tuyến dưới không chịu đầu hàng số phận. Khi thấy người dân địa phương quanh bến đò có nhu cầu tự phát muốn đi ghe sang đảo ngắm thú, một nhóm anh em lái đò và kỹ thuật viên (dưới sự dẫn dắt của một nữ cán bộ) đã nảy ra ý định dùng chính chiếc ghe cọc cạch của công ty để chèo chở khách qua lại hàng ngày. Họ bắt đầu đếm từng đầu người, thu từng đồng tiền vé lắt nhắt chỉ với mục đích duy nhất: kiếm tiền để tự nuôi sống nhau qua cơn bĩ cực. Cảm thương cho hoàn cảnh của nhân viên, Ông Hùng - Giám đốc công ty đã gật đầu chấp thuận, giao cho tổ chức công đoàn đứng ra làm "du lịch thí điểm". Đến năm 1993, các hoạt động chở người thân sang đảo chơi, ngắm cảnh đã trở thành hiện tượng quen thuộc.
Dù chật vật tự xoay sở, nỗi đau nhân sự vẫn hiện hữu rõ nét. Từ 82 người rực rỡ kỳ vọng của năm 1989, đến năm 1995, đội ngũ rơi rụng chỉ còn lại vỏn vẹn 45 người bám trụ với nghề.
Thật kỳ diệu và cũng thật rưng rưng, chính trong tận cùng của sự bế tắc, nghèo đói và những chuyến đò tự phát đẫm mồ hôi để kiếm từng bữa cơm ấy, ngành du lịch đảo đã vô tình được khai sinh. Những người công nhân chèo đò năm đó có lẽ không ngờ rằng, khát khao sinh tồn mãnh liệt của họ đã vô tình thắp sáng lại trọn vẹn giấc mơ vĩ đại mang tầm nhìn chiến lược về du lịch mà hai ông Nguyễn Xuân Hoàng và ông Lương Phan Hồ đã từng phải xót xa gác lại từ những năm 80.
Đến cuối năm 1995, trong giai đoạn này, mặc dù Công ty đã hết sức cố gắng mở rộng thị trường tìm đầu ra để nâng cao đời sống công nhân, nhưng nguồn vốn hạn hẹp, đầu ra sản phẩm không bán được. Thậm chí Công ty chủ trương cho tổ chức công đoàn hoạt động du lịch tự phát đón khách tham quan Đảo khỉ để nâng cao đời sống công nhân (đây là tiền đề phát triển du lịch như ngày nay), nhưng vẫn không thể nâng cao đời sống người lao động.
2. Giai đoạn từ năm 1996 đến đầu năm 2001
Ngày 21/8/1996 UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành Quyết định số 1560/QĐ-UB, ủy quyền cho Xí nghiệm liên hiệp thuốc lá Khánh Hòa quản lý điều hành Công ty nhằm giúp Công ty khắc phục khó khăn, vực dậy tiềm năng sẵn có. Ngoài việc nuôi khỉ xuất khẩu và động vật rừng, Công ty còn mở thêm các ngành du lịch như:
- Đưa đón khách tham quan các đảo ở biển Nha Trang;
- Kinh doanh nhà nghỉ lưu trú, bán hàng lưu niệm;
- Kinh doanh ăn uống giải khát;
- Kinh doanh các dịch vụ vui chơi, giải trí (xiếc thú, thể thao dưới nước…); - Vận chuyển khách du lịch Nội – Ngoại tỉnh;
- Dịch vụ lữ hành Nội địa.
Tháng 10/1996, Công ty 18/4 được UBND tỉnh giao quản lý, chuyển hướng khai thác du lịch tại các cụm đảo Hòn Lao, Hòn Thị, Hòn Sầm, Đảo Hòn Hèo….trong vùng Đầm Nha Phu.
Đến năm 1998, do gặp khó khăn về việc tiêu thụ sản phẩm nên Công ty đã quyết định bán toàn bộ đàn khỉ đang nuôi tại trại Đường Đệ với số lượng 712 con và giải thể trại.
- Nguồn vốn: Năm 1996 là 7.644.366.025 đồng đến năm 2001 tăng lên 12.630.215.549 đồng
- Doanh thu năm 1996 là 133.435.070 đồng đến đầu năm 2005 là 8.031.615.676 đồng
- Số lao động năm 1996 là 70 người đến đầu năm 2001 là 116 người
- Thu nhập bình quân: 1996 là 200.000 đồng/người, đến đầu năm 2001 là 250.000 đồng/người
Về phía hoạt động sản xuất kinh doanh trong giai đoạn này, Xí Nghiệp Liên Hợp Thuốc Lá Khánh Hòa (Tổng công ty Khánh Việt ngày nay) tập trung đầu tư hạ tầng:
- Tại Bến Nha Phu: xây dựng cầu cảng đón khách, nhà hàng, bãi đậu đỗ xe và trụ sở Công ty; phương tiện vận chuyển đường thủy: Ghe gỗ (đang làm tiểu cảnh tại Hoa Lan), tàu Long Phú 1,2,3,4 công suất 28-30 chỗ ngồi;
- Tại Đảo Khỉ: Đầu tư hệ thống đường đi nội bộ (đường đất), khu nhà nghỉ, nhà hàng, công viên, cầu cảng, nhà xiếc thú lớn, thú nhỏ.
Ngày 03/10/2000, Công ty chính thức hoạt động cảng thủy nội địa: Du lịch Đá Chồng (nay là Bến Nha Phu) theo Quyết định số 1391/QĐ-GTVT của Sở Giao thông vận tải tỉnh Khánh Hòa
3. Giai đoạn từ 25/5/2001 đến 8/10/2006 (trước thời điểm cổ phần hóa)
Ngày 25/5/2001, UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành Quyết định số 1881/2001/QĐ-UB về việc hợp nhất Công ty 18/4 và Công ty Khách sạn Hoàng Gia thành Công ty Du lịch Long Phú với các ngành nghề kinh doanh chính:
- Khách sạn, làng du lịch;
- Du lịch lữ hành;
- Vận chuyển khách du lịch;
- Bán hàng lưu niệm;
- Dịch vụ vui chơi, karaoke;
- Ăn uống giải trí;
- Mua bán rượu và thuốc lá điếu sản xuất trong nước;
- Chăn nuôi khỉ và động vật rừng;
- Chế biến các sản phẩm từ khỉ và động vật rừng.
Trước đó, Công ty Khách sạn Hoàng Gia được thành lập theo Quyết định số 2035/QĐ-UB ngày 21/9/1994 của UBND tỉnh Khánh Hòa, đến ngày17/01/1997, UBND tỉnh Khánh Hòa ủy quyền cho Xí nghiệp thuốc lá Khánh Hòa quản lý điều hành theo Quyết định số 166/QĐ-UB, có nhiệm vụ:
- Kinh doanh khách sạn;
- Kinh doanh dịch vụ du lịch, dịch vụ thương mại;
- Vận chuyển khách du lịch;
- Kinh doanh karaoke.